21:09 EDT Thứ năm, 19/04/2018

Menu

Chủ đề Mục vụ năm 2018

Logo chính thức cho Năm Mục vụ Gia đình 2017

HÌNH ẢNH

CÔNG TRÌNH ĐỒI THÁNH TÂM

Hình ảnh sinh hoạt mừng ngày Chúa Phục Sinh


ĐỨC MẸ THÁC MƠ 2013

Ngày tĩnh huấn các gia đình

Thánh Lễ Phong Chức Phó Tế

Trại hè thiếu nhi 2014

Làm Từ Thiện ở Juh Ju

Trang nhất » Tin Tức » Tài Liệu » Hạnh Các Thánh

21- Ðaminh Nguyên (1800 – 1862)

21- Ðaminh Nguyên (1800 – 1862)

Đaminh Nguyên sinh năm 1800, con ông Đaminh Duệ làm Xã trưởng. Khi bị bắt ông đang làm Chánh trương xứ Lục Thủy, con trai ông Đaminh Trình (35 tuổi) cũng bị bắt và tử đạo sau ông một ngày.

20- Ðaminh Hà Trọng Mậu (1794-1858)

20- Ðaminh Hà Trọng Mậu (1794-1858)

Năm 1794, làng Phú Nhai, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, quê hương của thánh Tôma Dụ và Đaminh Đạt, đã được vinh dự chào đón ngày sinh của bé Đaminh Hà Trọng Mậu, vị tử đạo tương lai. Lớn lên cậu xin phép cha mẹ, ông bà Đaminh và Maria Mỹ, dâng mình cho Chúa và chung sống với những bạn đồng chí hướng.

19- Ðaminh Nguyễn Ðức Mạo (1818-1862)

19- Ðaminh Nguyễn Ðức Mạo (1818-1862)

"Có những người vì đức tin bị căng nọc, bị đánh đòn, họ đã từ khước giải thoát ngõ hầu được hưởng sự sống hoàn hảo hơn. Có những người chịu thử thách, chịu sự sỉ nhục, chịu đòn vọt, họ còn bị xiềng xích và tù ngục. Họ bị ném đá, bị cưa sẻ, bị thiêu đốt, bị hiến đạp, bị hành hạ… Hết thảy những người đó đã được thiên Chúa chứng giám nhờ đức tin" (Dt 11, 35-37, 39).

18- Ðaminh Phạm Trọng Khảm (1780-1859)

18- Ðaminh Phạm Trọng Khảm (1780-1859)

Đaminh Phạm Trọng Khảm sinh khoảng năm 1780 trong một gia đình bảy anh em giàu có tại làng Quần Cống tại làng Xã Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định (nay thuộc phận Bùi Chu).

17- Ðaminh Huyên (1817-1862)

17- Ðaminh Huyên (1817-1862)

Đa Minh Toại sinh năm 1812 và Đa Minh Huyên sinh năm 1817. Hai ông là giáo hữu họ đạo Đông Thành, tỉnh Thanh Bình. Cả hai đã có gia đình, là những gia trưởng đạo đức sốt sắng, luôn nêu gương mến Chúa yêu người. Hai ông sống bằng nghề đánh cá, hằng ngày chày lưới trên sông Nhị Bình, ở gấn cửa Ba Lạt. Tánh tình đơn sơ, lương thiện, hai ông đều được các bạn đồng nghiệp và mọi người thương yêu khen ngợi.

16- Ðaminh Nguyễn Văn Hạnh (1772-1838)

16- Ðaminh Nguyễn Văn Hạnh (1772-1838)

"Nước Thiên Chúa ví như khi một người kia gieo giống xuống đất, dù người ấy ngủ hay thức, ban đêm hay ban ngày hạt giống cứ nẩy mầm, lớn lên mà người ấy không biết. Tự dưng cây mọc mạ rồi trổ đòng đòng và thành những hạt lúa chắc nịch, cho đến khi mùa gặt tới" (Mc 4, 26-29). Đoạn tin mừng trên đã ứng nghiệm trong cuộc đời thánh Phaolô Hạnh.

15- Ðaminh Ðinh Ðạt (1803 - 1838)

15- Ðaminh Ðinh Ðạt (1803 - 1838)

Vào năm Minh Mạng thứ 19, nhà vua truyền cho các quan phải bắt các lính có đạo trong quân ngũ phải quá khóa. Quan tổng đốc tỉnh Nam Ðịnh hồi đó là Trịnh Quang Khanh. Chiếu chỉ của vua cho Trịnh Quang Khanh như sau: "Nếu khanh muốn giữ vững thủ cấp trên cổ, khanh phải tuân theo lệnh của trẫm. Trẫm trao phó cả ngàn quân sĩ và đặt hết tín nhiệm nơi khanh. Hạn cho khanh trong vòng một tháng phải bắt tất cả các linh mục trốn tránh trong tỉnh, và thanh trừng các lính Công Giáo trong quân ngũ đến đứa cuối cùng. Trẫm không muốn giết chúng, nhưng trẫm muốn chúng bỏ đạo."

14- Ðaminh Cẩm (1810 - 1859)

14- Ðaminh Cẩm (1810 - 1859)

Đaminh Cẩm sinh tại làng Cẩm Giàng (hay Cẩm Chương), xứ Kẻ Roi, tỉnh Bắc Ninh (nay là Hà Bắc, gồm hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang)

13- Clêmentê Inhaxiô Y (1762-1838)

13- Clêmentê Inhaxiô Y (1762-1838)

Ignatiô Y Delgado sinh ngày 23.11.1762 tại làng Villafeliche, tỉnh Saragozza, miền Aragon, Tây Ban Nha. Từ thuở niên thiếu, Ignatiô Y chịu ảnh hưởng nhiều của các nữ tu Xitô. Say mê đọc sách cậu nghiền ngẫm tối ngày những truyện tích của các dì, hơn nữa ngôi làng của cậu từ núi đồi đến đồng cỏ, đất đai đến cây rừng đều ghi dấu những nữ tu áo trắng, con cái thánh Bernadô này.

11- Augustinô Nguyễn Văn Mới (1806-1839)

11- Augustinô Nguyễn Văn Mới (1806-1839)

Đọc truyện các Thánh Tử đạo Việt Nam, không ai có thể quên được một chứng tá tập thể của hai thầy giảng, ba giáo dân ở trong tù. Năm vị cùng bị giam chung với cha Tự và ông trùm Cảnh, nhưng hai vị này tử đạo trước (5.9.1838). Dù sống trong ngược đãi, dù bị kiểm soát gắt gao,

10- Augustinô Phan Viết Huy (1795-1839)

10- Augustinô Phan Viết Huy (1795-1839)

Vào năm Minh Mệnh thứ 19, nhà vua truyền cho các quan phải bắt các lính có đạo trong quân ngũ phải quá khóa. Quan tổng đốc tỉnh Nam Ðịnh hồi đó là Trịnh Quang Khanh. Chiếu chỉ của vua cho Trịnh Quang Khanh như sau: "Nếu khanh muốn giữ vững thủ cấp trên cổ,

9- Augustinô SCHOEFFLER Đông(1822-1851)

9- Augustinô SCHOEFFLER Đông(1822-1851)

Đối với thánh Augustinô Đông sứ mệnh loan báo Tin Mừng là một nhiệm vụ cao cả nhất. đặc biệt cho những vùng truyền giáo xa xôi. Sau khi học triết học và năm thứ nhất thần học, thày Augustinô Đông cảm thấy Chúa kêu gọi mình đi truyền giáo nên xin phép ba mẹ chuyển qua hội Thừa Sai Paris.

8- Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (Năm) (1768-1840)

8- Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (Năm) (1768-1840)

"Nếu bà và các con không cho tôi lấy của nhà giúp người, tôi sẽ đi vay mượn hoặc làm thuê, kiếm tiền giúp họ". Đó là một câu nói đầy cương quyết nhưng chân thành của quan vệ uý, cũng là ông lang và là ông trùm : Ông Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh. Câu nói đó cho chúng tôi thấy và hiểu về một cuộc đời 72 năm phục vụ con người để phục vụ Thiên Chúa.

7- Antôn Nguyễn Ðích (1769-1838)

7- Antôn Nguyễn Ðích (1769-1838)

Thánh Antôn Nguyễn Đích, một mẫu gương sáng ngời cho những người gia trưởng, đặc biệt trong việc giáo dục hướng dẫn đức tin cho con cái. Không kể thánh Lý Mỹ, người con rể chí hiếu, đã cùng tử đạo một ngày, gia đình ông đã cống hiến hai chứng nhân đức tin khác (hai vị này không có trong số 117)

6- Anrê Tường (1812-1862)

6- Anrê Tường (1812-1862)

Mùa hè năm 1995, tôi xếp đặt để có thể qua Paris vào văn khố của Hội Thừa Sai Paris (MEP) để tìm tòi tài liệu. Nhưng sau một thời gian vật lộn với cái nóng mùa hè để ngồi đọc những lá thư viết tay do các vị giám mục truyền giáo liên hệ gửi về Hội Thừa Sai và Bộ Truyền Giáo, tôi sinh nản lòng.

5- Anrê Trần Văn Trông (1814-1835)

5- Anrê Trần Văn Trông (1814-1835)

Trong hành tích thánh Anrê Trần Văn Trông, người quân nhân xứ Huế, ta thấy nổi bật lên chân dung của một bà mẹ. Đức Giáo Hoàng Lêo XIII ca tụng bà đã thể hiện lòng can trường "theo gương Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo".

4- Anrê Phú Yên (1625 - 1644)

4- Anrê Phú Yên (1625 - 1644)

Ba thế kỷ rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư cách là người truyền bá Tin Mừng và giáo lý Kitô, nhưng ký ức về Thầy vẫn không suy giảm

3- Anrê Nguyễn Kim Thông (1790-1855)

3- Anrê Nguyễn Kim Thông (1790-1855)

Anrê Nguyễn Kim Thông, còn gọi là Năm Thuông, sinh năm 1790 tại Gò Thị, Xuân Phương, xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh, trong một gia đình đạo đức, được giáo dục theo tinh thần đạo đức, được giáo dục theo tình Phúc Âm trong khuôn khổ Nho học.

2- Anrê Trần An Dũng Lạc (1795 – 1839)

2- Anrê Trần An Dũng Lạc (1795 – 1839)

Ngài là một nhà truyền giáo kiên trì không biết mệt, bằng lời nói và việc làm, tại nhiều giáo xứ cho đến khi bị bắt năm 1835. Giáo dân của ngài quyên góp đủ tiền để chuộc ngài. Sau đó ngài đổi tên từ Dũng thành Lạc để che dấu căn cước, và rời sang một vùng khác để tiếp tục sứ mạng.


Các tin khác

  Trang trước  1 2 3 4 5 6 7  Trang sau
 

Đăng nhập thành viên

Fanpage Linh Hoạt Viên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 39

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 37


Hôm nayHôm nay : 3533

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 67543

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4439250

Mỗi Ngày Một Vị Thánh

Liên Kết Trang Tin