08:02 EDT Chủ nhật, 27/05/2018

Chủ đề Mục vụ năm 2018

Logo chính thức cho Năm Mục vụ Gia đình 2017

Menu

HÌNH ẢNH

CÔNG TRÌNH ĐỒI THÁNH TÂM

Hình ảnh sinh hoạt mừng ngày Chúa Phục Sinh


ĐỨC MẸ THÁC MƠ 2013

Ngày tĩnh huấn các gia đình

Thánh Lễ Phong Chức Phó Tế

Trại hè thiếu nhi 2014

Làm Từ Thiện ở Juh Ju

Trang nhất » Tin Tức » Giáo Lý Công Giáo » Kiến Thức về Phụng Vụ

Các cử điệu phụng vụ

Thứ bảy - 10/05/2014 15:26
Các cử điệu phụng vụ

Chúng ta có thể phân làm ba loại cử điệu phục vụ: Cử điệu toàn thân (Attitutes); cử điệu tay (gestes des mains) và những cử điệu đặc biệt khác (gestes particuliers).

 

I. Cử điệu toàn thân

1. Đứng
Đứng là điệu bộ của thừa tác viên cử hành nghi lễ nơi bàn thờ như thánh Giêrônimô đã ghi chú và cũng là tập quán của người Do thái  (Gv 50,12).
Đối với giáo dân, đứng cũng là một điệu bộ nền tảng. Nó chỉ sự tôn kính: người ta đứng lên để tôn kính một vị cao cấp khi vị này tới. Cũng vì thế, mà trong nghi lễ phụng vụ, cộng đoàn đứng lên để tỏ lòng tôn kính Chủ tế khi vị này đi ra cũng như lúc trở về; chúng ta cũng đứng khi nghe công bố Tin Mừng và trong khi đọc kinh nguyện chung, khi đáp lại lời chào chúc của vị Chủ tế. Trong Cựu ước, dân Israel luôn đứng khi nghe Chúa phán (Xh 20,21).
Tuy nhiên, ngoài ý nghĩa tôn kính, đứng còn là điệu bộ cầu nguyện của người Do thái x. Mc 11,25 ; Lc 18,13, và cũng là điệu bộ của các tín hữu sơ khởi, như các hình vẽ còn lưu lại trong các hang toại đạo ở Roma chứng minh điều đó. Đứng cũng là lệnh truyền của công đồng chung Nicea năm 325. Vì thế, ngày nay chúng ta đứng trong các khi đọc kinh nguyện chung.
Các Giáo Phụ coi đứng như là một thái độ biểu lộ sự tự do của con cái Chúa, ơn chúng ta đã lãnh khi chịu phép rửa tội. Chúa Kitô đã nâng chúng ta dậy (Lc 22,28), và nhờ ơn của Người, chúng ta đã được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết: chúng ta không còn phải là nô lệ nữa, chúng ta không còn phải hổ thẹn nữa. Dĩ nhiên, trước nhan Chúa, chúng ta phải tôn kính, chúng ta tin cậy; chúng ta được tham dự vào phẩm chức của những người con.
Đứng cũng còn là tư thế của người đươc thông phần vào sự sống lại: vì thế, Hội thánh cổ và Hội thánh phương Đông ngày nay cấm các tín hữu quì gối ngày Chúa Nhật và các ngày trong mùa Phục Sinh. Vì Đức Kitô đã giải thoát ta khỏi tội lỗi và sự chết nhờ sự phục sinh vinh hiển của Người, ta không còn là nô lệ và cũng không còn phải hổ ngươi. Đối với Thiên Chúa, ta luôn đầy lòng kính trọng nhưng cũng luôn đầy lòng tin tưởng vì ta được thông phần vào phẩm cách làm con cái Thiên Chúa:”Thói quen không quì gối ngày Chúa Nhật là biểu tượng của sự phục sinh đã giải thoát ta khỏi tội lỗi và sự chết mà Đức Kitô đã tiêu diệt” (Thánh I-rê-nê).
Đứng còn là thái độ của những người mong đợi ngày tái giáng hồng phúc của Chúa Kitô. Trong ngày đó, chỉ những người không có chi đáng sợ trước sự công bình của Chúa có thể đứng (Ml .3,2). Chính những người Do thái đã đứng và sẵn sàng lên đường khi họ ăn thịt chiên tại Ai Cập (Xh 12,11); và trên thiên quốc, các thần thánh cũng đứng để hát bài ca tạ ơn Thiên Chúa (Kh 7,9 ; 15,2).

2. Quì gối
Quì gối cầu nguyện được coi như điển hình của sự thống hối. Theo thánh Basilio, quì gối là “Chứng tỏ bằng hành động rằng tội lỗi đã đè bẹp chúng ta tới đất”  Traité du St. Esprit, 27, éd B. Pruche (SC 17) 238. Nó còn là dấu chỉ của tang tóc, của khiêm nhượng. Vì thế nó không hợp với niềm vui Phục sinh và là điệu bộ thông dụng trong Mùa Chay.
Tuy nhiên, quì cầu nguyện không phải là dấu duy nhất của sự thống hối, nó cũng là điệu bộ thông thường của những lời nguyện riêng tư: người ta quì gối để cầu nguyện trước Mình Thánh, để thinh lặng suy gẫm một bài sách Thánh, như thói quen của các thầy dòng Ai cập xưa. Thánh Stêphanô quì gối cầu nguyện trước khi bị ném đá (Cv 7,60), và đó cũng là điệu bộ của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu (Lc 22,41), của Phêrô (Cv 9,40), của Phaolô  (Cv 20,36; 21,5; Ep 3,14) trong nhiều trường hợp khác nhau.

3. Ngồi
Ngồi là thái độ của ông thầy đang dạy, của người đứng đầu đang chủ tọa: Chính vì thế mà Giám Mục có chỗ riêng của Ngài, Ngài ngồi đó để chủ tọa, và nhiều khi ngồi trên ghế để giảng.
Tuy nhiên, dân chúng cũng được kêu mời ngồi trong một hai phần của phụng vụ. Mặc dầu, trong cổ thời, các nhà thờ không có ghế, nhiều Giám Mục cũng cho phép giáo dân ngồi xuống đất khi nghe đọc sách Thánh và nghe giảng. Nhưng, theo sách Tông đồ công vụ, thì người ta đã ngồi ngay từ thời các tông đồ (Cv 20,9; 1Cr 14,30). Bởi vậy, nó không những là thái độ của những người dạy, mà của cả người nghe nữa: Chúa Kitô ngồi giữa các Thầy Tiến Sĩ (Lc 2,46), Maria ngồi dưới chân Chúa (Lc 10,39).
Theo phụng vụ hiện nay, giáo dân ngồi khi nghe đọc sách, khi giảng, trong phần dâng lễ và sau khi rước lễ. Ngoài ra cộng đồng cũng ngồi khi đọc hoặc hát Thánh vịnh trong các giờ kinh phụng vụ.

4. Cúi mình
Cúi mình là thường biểu lộ ý nghĩa cung kính hoặc thờ lạy. Đây là điệu bộ phụng vụ thông thường của dân chúng đang khi chủ tế kêu cầu phúc lành của Chúa trên mình. Ngày nay, trong khi Đông Phương còn trung thành với điệu bộ cúi mình, thì Tây Phương, vì ảnh hưởng của tập quán cầu nguyện riêng, hay thay thế bằng quì gối.
Cử điệu cúi mình dễ thực hiện hơn và lại không trực tiếp biểu  thị sự thống hối, nên cần duy trì. Ngày nay, tại nhiều nước, người ta thay thế bái gối bằng cúi mình sâu trước Mình Thánh.

5. Phủ phục
Phủ phục sát mặt đất là một điệu bộ rất họa hiếm trong phụng vụ ngày nay, tuy nó là điệu bộ nền tảng của nhiều tôn giáo như Hồi giáo, Phật giáo. Là hình ảnh sống động của sự tự hạ, điệu bộ này phải phát xuất từ đáy con tim của tâm hồn sùng đạo. Nó được Kinh thánh nhắc tới nhiều lần như là cử chỉ thành kính một vị thũ lãnh (St 19,1) và đặc biệt là cử chỉ trước thiên nhan Chúa để tỏ lòng thờ lạy, tôn kính  St 17,3; 1Cr 14,25, để cầu ơn  Nl 9,18; Tv 94,6; Mt 8,2; 18,26; Lc 5,12, Kh 4,10. Đối với lời nguyện của Chúa Giêsu tại Giêtsimani, thánh Luca cho thấy là Người quì gối, nhưng Marcô và Mathêu diễn tả như Người phủ phục cầu nguyện  Mc 14,35 ; Mt 26,39.
Trong phụng vụ ngày nay, phủ phục còn được dùng trong nghi thức truyền chức và khấn dòng; và một cách đơn giản hơn, trong nghi lễ tôn thờ Thánh giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.
 
II.  Cử điệu tay
Sau lời nói thì tay là dụng cụ biểu thị rõ ràng nhất của tư tưởng và tâm tình con người. Vì thế, cử điệu tay cũng là cử điệu thông thường nhất trong phụng vụ.

1. Tay giơ lên
Hai tay giang ra và giơ lên là cử chỉ bắt buộc trong các kinh cầu nguyện của chủ tế, ít là trong thánh lễ. Đó là cử điệu được dùng từ lâu đời và được các tác giả Thánh kinh năng nhắc tới Xh 9,29; Tv 27,2; 43,21; 62,5; 76,3; 87,10; 133,2 v.v.... Trong một thời gian khá lâu thuộc Giáo Hội sơ khởi, nó cũng là điệu bộ của giáo dân  khi cầu nguyện (1Tm 2,8) như những hình vẽ tại các hang toại đạo đã làm chứng điều đó.
Giang tay và giơ lên là cử chỉ cầu xin và tự hiến  x. Gr 65,2; Tv 118,48. Cử chỉ của tù nhân giơ tay đầu hàng cũng có ý nghĩa tương tự. Ngoài ra Tertuliano và nhiều Giáo phụ còn coi đó là hình ảnh Chúa Kitô trên Thánh giá.

2. Chắp tay
Theo văn hóa Âu Tây, chắp tay là bắt chước thái độ tôn phục, cung kính của các chư hầu trước mặt chủ mình. Trong phụng vụ nó chỉ lòng nhiệt thành, cung kính và suy phục.

3. Đặt tay
Đặt tay trên đầu thường là cử chỉ cầu phúc, là xin Thiên Chúa chúc lành, thánh hóa người hay vật mà chủ tế đặt tay. Trong nhiều trừng hợp nó là dấu bí tích, như khi Đức Giám Mục đặt tay trên các ứng viên để truyền chức cho họ.

4. Đấm ngực
Đấm ngực là cử chỉ biểu lộ lòng thống hối: trong dụ ngôn người thu thuế đấm ngực cầu nguyện rằng: “Lạy Thiên Chúa, con là kẻ tội lỗi ...” (Lc 18,13), và trước cảnh tượng Đức Giêsu tắt thở, “toàn thể dân chúng đã kéo đến xem, đều đấm ngực ra về” (Lc 23,48).

5. Ngước mắt lên trời
Trong Kinh Tạ Ơn I, khi đọc lời truyền phép, chủ tế làm lại cử chỉ Đức Giêsu đã làm. Tuy không được một trình thuật Tiệc ly nào xác nhận, nhưng ngước mắt lên trời được Tin Mừng nói đến như là một cử chỉ của Đức Giêsu khi Người hóa bánh nuôi dân lần thứ nhất (Mt 14,19; Mc 6,4; Lc 9,16), hay khi Người bắt đầu giảng dạy trên núi (Lc 6,20), cho Ông La-da-rô sống lại (Ga 11,41) và cất tiếng cầu cùng Chúa Cha (Ga 17,1). Các tín hữu tiên khởi cũng ngước mắt lên trời khi cầu nguyện.

6. Dấu Thánh giá
Dấu Thánh giá là một sáng tạo riêng biệt của Kitô giáo. Sách Ezéchiel mô tả những người công chính như những người đã được đóng ấn chữ Tau (chữ cuối cùng của mẫu tự Do thái) giống hình thập tự người Do thái dùng để đánh tử tù. Có lẽ người tín hữu đã nhìn chữ Tau như hình Thánh giá của Chúa Kitô và đã vẽ trên mình có lẽ ngay từ thời các Tông đồ. Từ đầu thế kỷ III, dấu Thánh giá đã được nhắc tới như dấu thánh hiến người Kitô hữu cho Chúa Kitô khi nhập đạo, Và Giáo Hội còn kêu mời người tân tòng năng làm dấu ấy trên mình. Trong thời gian ấy người ta vẽ dấu Thánh giá trên trán bằng ngón tay cái, còn dấu Thánh giá trên trán, ngực và hai vai chỉ bắt đầu có từ thế kỷ VIII. Ngày nay, dấu Thánh giá được làm khi bắt đầu các nghi lễ phụng vụ, và cả những khi cầu nguyện riêng. Dấu Thánh giá cũng còn như là một dấu trừ tà, làm phép và thánh hiến.
Làm dấu Thánh giá ta tưởng niệm Chúa Kitô chịu đóng đinh và mầu nhiệm cứu chuộc, ta xưng tụng và kêu cầu Chúa Ba Ngôi.
 
III. Cử điệu đặc biệt

1. Bái gối, cúi mình
Có những cử điệu biểu tượng sự tôn kính như bái gối, cúi đầu hay cúi mình. Ngày nay, người ta chỉ bái gối trước Mình Thánh và tượng chịu nạn ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Cử điệu này tại nhiều địa phương được thay thế bằng cúi mình.

2. Hôn kính
Hôn kính là cử chỉ thờ phượng trong tập tục Do thái ... (G, 31,27). Ngày nay trong phụng vụ chủ tế hôn kính bàn thờ và sách Tin Mừng.

3. Hôn bình an
Đối với tín hữu thời xưa, cái hôn phụng vụ diễn tả tình huynh đệ và sự hòa giải x. Rm 16,16; 1Cr 16,20; 2Cr 13,12; 1Tx 5,26; 1Pr 5,14. Ngày nay, Giáo Hội để cho các Hội đồng Giám Mục tự tìm ra cử chỉ nào thích hợp để diễn tả tâm tình yêu thương và tha thứ cho nhau trước khi lên rước lễ, nguồn mạch tình thương. Tại Việt Nam, chúng ta dùng cái cúi đầu để biểu lộ tâm tình kể trên. Nhưng thử hỏi nó có thể diễn tả được tâm tình kể trên không ?

 
IV. Phẩm phục
Qui chế tổng quát về sách lễ Roma qui định như  sau:
“ Trong Hội Thánh là nhiệm thể Chúa Kitô, các chi thể không thi hành cùng một phận vụ như nhau. Khi thi hành việc phụng tư, sự khác biệt về chức vụ được biểu lộ ra bề ngoài nhờ sự khác biệt về phẩm phục; do đó, phẩm phục phải là dấu chỉ chức vụ của mỗi thừa tác viên. Tuy nhiên, phẩm phục thánh cũng cần phải làm tăng vẻ trang trọng của chính nghi lễ phụng vụ“. (297)
“Phẩm phục chung cho mọi thừa tác viên thuộc bất cứ cấp bậc nào là áo trắng dài với giây thắt lưng, trừ phi áo đã được may sát vào người, không cần giây lưng. Trước khi mặc áo trắng dài, nếu áo này không che kín cổ áo thường, thì dùng khăn vai. Áo các phép không thể thay thế cho áo trắng dài khi mặc áo lễ hay áo phó tế, hoặc khi đeo giây các phép thay cho áo lễ hay áo phó tế.” (298)
“ Phẩm phục riêng của linh mục chủ tế trong thánh lễ và trong các nghi lễ phụng vụ khác trực tiếp liên quan đến thánh lễ, là áo lễ mặc ngoài áo trắng dài và giây các phép, trừ khi được trù liệu cách khác.” (299)
“Ao riêng của Thầy phó tế là  áo phó tế (dalmatica) mặc ngoài áo trắng dài và giây các phép.” (300)
Linh mục mang giây các phép chung quanh cổ và rủ xuống trước ngực; thầy phó tế mang giây các phép trên vai trái chéo qua ngực sang phía tay mặt thân mình và ghim lại. (302)
Linh mục mặc áo choàng khi đi rước và trong những nghi lễ phụng vụ khác, theo chữ đỏ của từng nghi lễ (303).
Về hình thức phẩm phục, các Hội đồng Giám Mục có thể định đoạt và đề nghị sang Tòa Thánh những gì thích hợp với nhu cầu và phong tục của mỗi miền (304; PV 128).
Để may phẩm phục, ngoài những chất liệu cổ truyền, còn có thể dùng những tơ lụa tự nhiên của từng địa phương, và một vài thứ tơ lụa nhân tạo, phù hợp với phẩm giá của nghi lễ phụng vụ và chức vị. Về vấn đề này, Hội đồng Giám Mục sẽ quyết định (305; PV 128).
Phải để ý sao cho tính cách thẩm mỹ và thanh nhã của phẩm phục không ở tại nhiều trang vật đính thêm vào, nhưng ở tại chất liệu và hình thức phẩm phục. Tuy nhiên, những trang vật phải là những hình dung, tức là những hình ảnh hoặc biểu tượng chỉ về lãnh vực linh thánh; vì thế, phải loại trừ tất cả những gì bất xứng với tính cách đó (306).
 
V. Lịch sử các áo lễ
Các y phục này có nguồn gốc rất khác biệt. Muốn tìm hiểu lịch sử của chúng,  ta phải tra cứu, ngoài những tài liệu thông thường, như các lịch Roma, các sách Nghi thức Giám Mục, các sách khảo luận của các nhà phụng vụ thời Trung cổ, phần lớn phải nại tới các bức vẽ phóng hình (représentations figurées): như các bức mosaques, các bức bích họa (fresques), các đồ ngà, các cảo bản thu nhỏ, và một số tác phẩm hay mảnh vụn còn giữ được trong các viện bảo tàng, các cuốn sưu tập.
Thoạt đầu, các cấp bậc không được phân biệt nhau bằng những phẩm phục riêng. Sự kiện này còn tồn tại ở Roma mãi tới năm 428, như thánh Giáo Hoàng Célestino I làm chứng Epistula ad episcopos per Viennensem et Narbonensem provincias, PL 50, col 431. Nhưng tại Đông Phương, thì ít nhất vào thế kỷ V, thầy phó tế đã mang giây Orarion , tương tự như giây các phép hiện nay (Công đồng Laodicea giả, đã cấm các giáo sĩ cấp dưới đeo orarion can 22-23; Ed BRUNS, t 1, tr. 76. Y phục của vị chủ tế cũng như các thừa tác viên là y phục trong sinh hoạt thường ngày của những người dân có địa vị khá giả. Tỉ dụ như ở Roma, theo luật về y phục năm 382 và 397, thì đó là một áo dài trắng (tunica) và một áo khoác trên Ponula hay byrrhus P. BATIFFOL, Le costume liturgique romain, trong: Etudes de Liturgie et darchéologie chrétienne, Gabalda et Picard , 1919, tr 35-47; không được mang y phục bộ đội cũng như áo mặc lúc lao động. Dần dần người ta đòi phải mặc y phục khác với y phục thường ngày, nghĩa là những y phục được biệt ra vì mục tiêu và chất liệu quí giá của chúng x OR I,29: mutent vestimenta sua; Ibid 33: mutat vestimenta solemnia. Những áo này dần dần trở thành áo linea (áo dài trắng) và planeta (áo lễ) của chúng ta ngày nay. Đức Giám Mục và các phó tế Roma còn mặc thêm áo dalmatica, cũng một thứ áo dài trắng, nhưng vắn hơn và làm bằng vải quí hơn. Áo này mặc ngoài áo dài trắng và trong áo lễ. Đây là y phục danh dự, tương đương với áo colobus của các Thượng Nghị Sĩ. Sau cùng dầy có trang điểm (campagi) và biểu chương là những huy hiệu các vua trao tặng Đức Giáo Hoàng P. BATIFFOL, sđd 57-71. Mãi sau người ta mới thêm vào giây tay (mappula), là cái mà các lãnh sự viên thường dùng để khai mạc những cuộc chơi công cộng x. OR I, n 37-38; BATIFFOL sđd 55. Đó là những y phục mà cuốn Ordo Romanus I đã nói tới vào đầu thế kỷ VIII, và chỉ thêm hai cái nữa là giây lưng và khăn vai (cingulum et amictus). Có lẽ đây là bắt chước tập tục của các tu viện x OR I, n 34; ANDRIEU OR II, tr 48.
Trong khi tại Roma người ta không biết gì tới giây các phép (stola), thì tại Tây ban Nha, Pháp và Đông Phương, nó lại là huy hiệu duy nhất để phân biệt chức phó tế. Các linh mục cũng mang giây các phép, nhưng cách mặc khác với phó tế ANDRIEU OR IV, 129 -131. Sự pha trộn phụng vụ Roma với phụng vụ Pháp thời Ca-rô-lanh-giêng đã nhập tịch giây các phép vào phẩm phục của Roma OR 6, n.11; OR 8, n.lvs; ANDRIEU OR II, tr. 235, 312; IV, tr. 130 -139. Đang khi tập tục phụng vụ Pháp -Đức , qua cuốn Nghi thức Giám Mục , đã ảnh hưởng tới phụng vụ Roma, và đã nhập tịch vào đó một y phục mới, tức áo choàng. Áo này được mặc thay áo lễ trong rất nhiều nghi thức  ANDRIEU OR IV, tr. 149 -153. Ngoài ra, việc sử dụng nhẫn và gậy Giám Mục đã bắt đầu tại Tây ban Nha từ thế kỷ VIII, rồi từ đó truyền qua Pháp, Đức và cuối cùng Roma. Tuy nhiên, phải nói ngay là Đức Giáo Hoàng không bao giờ dùng gậy Giám Mục (Ngài dùng gậy thẳng). Trái lại, việc sử dụng mũ đã đi theo con đường ngược chiều. Với cái tên Phrygium , mũ đã được dùng trong phụng vụ của Đức Giáo Hoàng từ thế kỷ IX -X, đến cuối thế kỷ XII, người ta bắt đầu sử dụng trong nghi lễ tấn phong Giám Mục, rồi dần dần nó có những hình thức khác nhau; vì thế Luật chữ đỏ của thế kỷ XV đã nói tới 3 thứ mũ Giám Mục. Sau cùng việc sử dụng bí tất, găng tay, hai áo phụ phó tế (tunica) và một áo mặc trong áo dài trắng (camicia) có lẽ đã xuất phát từ phụng vụ Pháp.
Sau thế kỷ XII, y phục phụng vụ trên thực tế là tất cả những y phục hiện tại, nếu có thay đổi, chỉ là trong hình thức. Các y phục trở thành những trang sức (paramenta), thêm thắt vào nhiều đường thêu, đường kim tuyến, đá ngọc và những tranh ảnh tượng hình: chúng mất vẻ mềm mại, phong phú, đến nỗi nhiều lúc không thể nhận ra được nữa. Chính vì thế, ngày nay có một phản ứng ngược lại, không phải vì nệ cổ, nhưng là để trả lại cho y phục phụng vụ vẻ đẹp trang nhã xứng với việc phụng tự và diễn tả được ý  nghĩa đích thực của chúng.
 
VI. Ý nghĩa thâm sâu của y phục phụng vụ
Mặc dầu lịch sử y phục phụng vụ nói lên cho chúng ta tính chất mau qua và biến đổi của chúng; mặc dầu nhiều y phục sau này mới được thêm vào; mặc dầu chúng còn cần được đơn giản hóa, nhưng phải nhận là Giáo Hội đã gán cho chúng một ý nghĩa quan trọng, coi chúng như những dấu chỉ của mỗi thừa tác viên (QCSL 297) và thánh hóa chúng bằng những công thức đã có từ ngàn năm, rồi trao cho mỗi thừa tác viên khi họ thụ phong.
Chính nhiều tác giả Tin Lành cũng công nhận sự quan trọng này, mặc dầu họ phủ nhận tính phẩm trật của các chức. R. Paquier viết: “Thật là tự nhiên, khi làm việc phụng tự, mỗi thừa tác viên mặc xứng với tác vụ họ được trao phó và diễn tả được điều họ đang cử hành ... những người thi hành một hành động phụng tự, họ không làm với tư cách cá nhân, nhưng với tư cách là thừa tác viên của Giáo Hội” Traité de Liturgie, Neuchâtel , Delachaux et Niestlé, 1954, tr. 122;  x. tr. 120 -129 . Quả thực , với hình thể rộng rãi, y phục phụng vụ làm giảm bớt và xóa nhòa cá tính  của những người mặc, để nói lên phẩm chức và tác vụ của họ. Đành rằng, đức tin Công giáo làm cho chúng ta nhận ra nơi vị Giám Mục, linh mục và phó tế hình ảnh Chúa Kitô vô hình, tuy nhiên thật là bình thường khi các ngài thi hành sứ vụ của mình, các ngài mặc một y phục nhắc nhở cho các ngài và những người khác : các ngài là ai? và cái gì sẽ được thực hiện nơi các ngài... Đàng khác, chiếc áo trắng dài tới gót trước hết muốn nói cho những người mặc nó không được hấp tấp, vội vàng, cũng không được ngả theo chủ trương thực dụng; nhưng đặc biệt, chiếc áo trắng đó muốn nhắc nhở mọi người nhớ lại y phục vương đế và tư tế của phụng vụ thiên quốc, y phục của Chúa Kitô khải hoàn cũng như của các thiên thần và các thánh trên trời.
 
VII. Mầu sắc của y phục phụng vụ
Qui chế tổng quát về sách lễ Roma qui định về mầu sắc của y phục phụng vụ như sau :

- Màu Trắng dùng trong những thần vụ và thánh lễ mùa Phục Sinh và Giáng Sinh; cũng dùng trong các lễ kính, lễ nhớ về Chúa không phải là lễ kính nhớ cuộc thương khó của Người; trong các lễ kính, lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria, các thiên thần, các thánh không phải là thánh tử đạo, trong lễ các thánh nam nữ (01.11), lễ thánh Gioan Tẩy giả (24.06), thánh Gioan Tông Đồ (27.12), lễ kính Tòa thánh Phêrô (22.02) và lễ thánh Phaolô tông đồ trở lại (25.01).

- Màu Đỏ dùng trong Chúa nhật Thương khó và thứ Sáu Tuần Thánh, lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, trong các cử hành cuộc thương khó của Chúa, trong lễ kính các thánh Tông Đồ, các thánh tác giả Sách Tin Mừng, và trong các lễ kính các thánh Tử Đạo.

- Màu Xanh dùng trong các thần vụ và thánh lễ mùa Thường niên.

- Màu Tím dùng trong mùa Vọng, mùa Chay. Cũng có thể dùng trong các thần vụ và thánh lễ cầu cho những người đã qua đời.

- Màu Đen có thể dùng trong thánh lễ cầu cho những người đã qua đời.

- Màu Hồng có thể dùng trong các Chúa nhật III mùa Vọng và Chúa nhật IV mùa Chay.

Các Hội đồng Giám Mục có thể ấn định và đề nghị với Tòa Thánh những thích ứng, cho phù hợp với nhu cầu và não trạng của các dân tộc.
Trong những ngày lễ trọng, có thể dùng những phẩm phục trọng thể hơn, mặc dầu không mang màu sắc của ngày đó.
Trong những lễ có nghi thức riêng, thì dùng màu riêng hay màu trắng hoặc màu của ngày lễ; các lễ “cho các nhu cầu khác nhau”, thì dùng màu riêng của ngày lễ hay của Mùa, hoặc dùng màu tím nếu đó là ngày lễ có tính cách sám hối; trong những lễ ngoại lịch, thì dùng màu hợp với lễ cử hành, hoặc cũng có thể dùng màu riêng của ngày hay của Mùa” (QCSL 308-310)

Nguồn tin: Sưu Tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 7 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Đăng nhập thành viên

Fanpage Linh Hoạt Viên

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 51

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 50


Hôm nayHôm nay : 2953

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 109298

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4589204

Mỗi Ngày Một Vị Thánh

Liên Kết Trang Tin